Sự cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thị trường chứng khoánCó thể nói, TTCK không thể vận hành và phát triển mạnh nếu không có một khuôn khổ pháp lý cần thiết cho tổ chức và hoạt động của nó. Trong việc đánh giá tầm quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của TTCK thì yếu tố đầu tiên là môi trường pháp lý, yếu tố thứ hai là hàng hoá trên thị trường và tiếp theo là tình hình chính trị và sự hiểu biết của công chúng về chứng khoán (Xem thêm: Tạp chí Chứng khoán, số 4, tháng 4/2002, tr.15, 16).
Thông thường, TTCK ở mỗi nước có bước phát triển từ thấp đến cao, từ qui mô nhỏ đến qui mô vừa và lớn, do vậy, luật pháp cũng phải thay đổi để phù hợp với tiến trình phát triển của TTCK. Có những nước ban hành văn bản pháp luật bao trùm lên các lĩnh vực của TTCK bằng Luật Chứng khoán, như ở Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc… Ngược lại, có những nước ban hành văn bản pháp luật đơn hành điều chỉnh một lĩnh vực nhất định của TTCK như Luật về Giao dịch chứng khoán, Luật về Bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư chứng khoán (như Mỹ, Trung Quốc…), hoặc có nước xây dựng Luật Công ty điều chỉnh cả lĩnh vực TTCK (như Anh, Úc..). Mặc dù các nước có những đặc thù nhất định trong việc xây dựng khuôn khổ pháp lý về TTCK, nhưng cần thấy rằng, pháp luật về TTCK không nảy sinh từ hư vô. Cội nguồn của sự ra đời các văn bản này là xuất phát từ vai trò của chứng khoán, TTCK và vai trò của pháp luật đối với TTCK đối với sự phát triển của nền kinh tế cũng như nhu cầu quản lý nhà nước đối với thị trường này.
Vai trò của TTCK: Hiện nay chúng ta không thể phủ nhận vai trò của thị trường chứng khoán đối với sự phát triển của nền kinh tế mỗi quốc gia. TTCK phản ánh rõ nét nhất các qui luật của nền kinh tế thị trường. TTCK được ví như chiếc nhiệt kế để đo “nhiệt độ” của nền kinh tế. Sự tăng trưởng của nền kinh tế được đánh giá qua chỉ số giá chứng khoán của TTCK. Lịch sử phát triển nền kinh tế thị trường ở các quốc gia phát triển đã khẳng định TTCK ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình vận hành nền kinh tế của mỗi quốc gia cũng như trong hệ thống kinh tế toàn cầu. Đối với Việt Nam, để hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực tài chính, tạo các tiền đề kinh tế quan trọng, đưa đất nước ta đến năm 2020 cơ bản là một nước công nghiệp như Đại hội Đảng VIII đã đề ra thì việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện thị trường tài chính (trong đó có TTCK) là hết sức cần thiết.
TTCK là kênh huy động vốn trung và dài hạn hữu hiệu cho các doanh nghiệp: Doanh nghiệp là đầu tàu của nền kinh tế, quyết định tới sự thịnh vượng của một quốc gia. Doanh nghiệp có tồn tại, phát triển, kinh doanh có hiệu quả thì mới có tiền để nộp thuế vào ngân sách nhà nước, đáp ứng các nhu cầu chi tiêu ngày càng gia tăng của nhà nước. Nhưng để tồn tại, doanh nghiệp cần vốn. Không thể triển khai các dự án tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nếu không tập hợp được những nguồn vốn khổng lồ mà người tập hợp có toàn quyền sử dụng cho những mục tiêu trung và dài hạn. TTCK có vai trò đó, cái mà ngành ngân hàng với phương thức kinh doanh ăn chắc không thể làm được (Xem: TTCK và công ty cổ phần, Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả, Hà Nội, 1989, tr. 98).

TTCK là nơi thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn nhàn rỗi vào đầu tư sản xuất kinh doanh, thu hút vốn đầu tư nước ngoài tạo thành nguồn vốn khổng lồ tài trợ cho nền kinh tế mà các định chế tài chính khác không làm được. Thông qua các công cụ cổ phiếu, trái phiếu, các loại chứng khoán khác, TTCK cho phép các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng, kể cả Chính phủ, chính quyền địa phương huy động tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, đưa vào đầu tư phát triển. ở Việt Nam, trong một thời gian khá dài, kể từ khi có Luật Đầu tư nước ngoài (năm 1986), chúng ta chủ yếu chú trọng tới việc thu hút nguồn vốn nước ngoài mà gần như lãng quên nguồn vốn trong nước. Điều này cũng hoàn toàn dễ hiểu, bởi dưới góc độ nào đó, việc huy động vốn trong nước còn khó hơn huy động vốn từ nước ngoài vì chúng ta còn thiếu một hệ thống cơ sở hạ tầng về tài chính để tập trung chuyển tải các đồng vốn nằm phân tán, rải rác trong công chúng đến những doanh nghiệp cần vốn. Để khắc phục nhược điểm này thì việc xây dựng và phát triển TTCK là một trong các tiền đề tạo cơ sở hạ tầng đó. TTCK ra đời, một mặt tạo cơ hội cho các doanh nghiệp lựa chọn hình thức huy động vốn, không chỉ phụ thuộc vào kênh ngân hàng với những thủ tục, trình tự cho vay rườm rà, với những điều kiện quá ngặt nghèo như yêu cầu bắt buộc phải có tài sản bảo đảm. Mặt khác, TTCK giúp cho Chính phủ và các doanh nghiệp huy động được nguồn vốn dài hạn tối đa phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế và sản xuất. TTCK cùng với hệ thống ngân hàng sẽ tạo nên hệ thống tài chính đủ mạnh, cung cấp các nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, phục vụ công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Thông qua TTCK nguồn vốn “vô tận” từ nước ngoài cũng được huy động một cách tối đa, xuất phát từ đặc điểm của thị trường này là vốn tài chính tạo thành những dòng chảy tự do, dòng vốn này sẽ tự động chảy vào những “vũng trũng” – những thị trường tiềm năng.
TTCK khuyến khích người dân tiết kiệm để đầu tư vào sản xuất kinh doanh: Với việc mua bán chứng khoán dễ dàng trên TTCK (theo nguyên tắc ai có tiền đều có thể mua), nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi trong dân cư được sử dụng một cách linh hoạt, tạo ra lợi nhuận, tránh tình trạng “vốn chết”. TTCK được coi là chiếc cầu nối vô hình giữa người có vốn và người thiếu vốn, là kênh điều hoà các nguồn vốn từ nới thừa vốn đến nơi thiếu vốn, giải quyết linh hoạt nhu cầu về vốn giữa các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế.
TTCK tạo điều kiện cho doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả hơn, đảm bảo cho các doanh nghiệp hoạt động theo đúng trật tự của luật pháp: TTCK kích thích các doanh nghiệp làm ăn “đàng hoàng” hơn, hiệu quả hơn. Tâm lý của nhà đầu tư là chỉ muốn mua chứng khoán của các doanh nghiệp làm ăn có lãi. TTCK buộc các doanh nghiệp phải công khai thông tin thường xuyên, tức thời theo yêu cầu của Uỷ ban chứng khoán nhà nước. Có thể nói, TTCK là thị trường thông tin. Thông qua các thông tin này, nhà đầu tư có thể đánh giá khả năng tài chính, hoạt động kinh doanh và triển vọng của doanh nghiệp để lựa chọn đầu tư. Vì vậy, muốn tồn tại được không có cách nào khác là doanh nghiệp phải làm sao sử dụng đồng vốn cho có hiệu quả nhất. Thêm vào đó, TTCK cũng là công cụ đánh giá doanh nghiệp. Thông qua diễn biến giá cổ phiếu, trái phiếu của doanh nghiệp trên thị trường, nhà đầu tư biết được khả năng kinh doanh của doanh nghiệp. Giá chứng khoán tăng biểu hiện doanh nghiệp phát hành chứng khoán đó làm ăn hiệu quả, ngược lại, giá chứng khoán giảm chứng tỏ việc kinh doanh của doanh nghiệp không tốt, nếu doanh nghiệp không thay đổi chiến lược kinh doanh thì có thể dẫn tới hậu quả phá sản. Hay nói cách khác, nhà đầu tư có thể kiểm soát công ty một cách dễ dàng qua các cơ quan quản lý công ty và nhận biết được khả năng hoạt động của công ty thông qua TTCK.
Còn tiếp...